Từ dữ liệu địa phương đến đối thoại quốc tế: Dấu ấn nghiên cứu của DUE trong Quý I/2026
07/04/2026
Trong Quý I/2026, Trường Đại học Kinh tế - Đại học Đà Nẵng tiếp tục ghi nhận các công bố trên những diễn đàn khoa học quốc tế uy tín. Điều đáng chú ý là cách các nhóm nghiên cứu lựa chọn những vấn đề mới của thị trường, đô thị, chuyển đổi số và du lịch bền vững; đồng thời đưa dữ liệu Đà Nẵng, Việt Nam và các bộ dữ liệu xuyên quốc gia vào đối thoại học thuật rộng hơn.
Các công bố quốc tế Quý I/2026 của DUE cho thấy một hướng đi khá rõ: Chọn những vấn đề đương đại, làm sâu về mô hình và dữ liệu, đồng thời mở rộng hợp tác trong nước và quốc tế để đưa bối cảnh Đà Nẵng, Việt Nam vào các cuộc thảo luận học thuật rộng hơn.

1. Từ vấn đề khó của thị trường vốn đến bài toán quản trị doanh nghiệp trong kỷ nguyên số
Một mạch nghiên cứu nổi bật trong Quý I/2026 của DUE là tài chính - quản trị, nơi các nhóm tác giả không dừng ở mô tả hiện tượng mà đi sâu vào cơ chế vận hành. Trong bài báo của TS. Trần Nguyễn Trâm Anh và PGS. TS. Đinh Bảo Ngọc thực hiện cùng đối tác từ Trường Đại học Ngoại thương “Analyst Coverage and Commonality in Liquidity: International Evidence” sử dụng dữ liệu doanh nghiệp niêm yết tại 53 quốc gia giai đoạn 2000 - 2019 để cho thấy mức độ bao phủ của nhà phân tích có thể làm giảm tính đồng biến thanh khoản; tác động này càng rõ ở những thị trường có nền tảng thể chế yếu hơn. Giá trị của công trình không chỉ nằm ở bộ dữ liệu xuyên quốc gia, mà còn ở đóng góp cho tranh luận về minh bạch thông tin và hiệu quả thị trường vốn trong bối cảnh toàn cầu hóa.
Ở một hướng khác, TS. Đỗ Khắc Trung (Trường Đại học Kinh tế) cùng các cộng sự từ Trung Quốc và Đài Loan đặt ra một câu hỏi rất thời sự trên Journal of Corporate Finance: Liệu rủi ro an ninh mạng chỉ là sức ép phòng vệ, hay còn có thể trở thành động lực tái cấu trúc doanh nghiệp? Bài báo “Turning threats into opportunities: The impact of cybersecurity risk on labor investment efficiency” chỉ ra rằng dưới những điều kiện nhất định, áp lực từ cybersecurity risk có thể thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư công nghệ, nâng cấp kỹ năng người lao động và củng cố văn hóa phối hợp nội bộ, từ đó cải thiện hiệu quả đầu tư lao động. Cách tiếp cận này cho thấy DUE không chỉ quan tâm đến kết quả tài chính, mà còn theo dõi cách doanh nghiệp thích ứng với rủi ro số bằng những thay đổi chiến lược có chiều sâu.
2. Giao thông xanh: Khi Đà Nẵng và Việt Nam trở thành “phòng thí nghiệm sống” của nghiên cứu quốc tế
Ở nhóm nghiên cứu về giao thông bền vững, các tác giả của DUE tiếp cận rất gần những vấn đề chính sách đang đặt ra với các đô thị Việt Nam. ThS. Trương Minh Thi tham gia nhóm nghiên cứu cùng VinUniversity, Edith Cowan University, KFUPM Business School và Huazhong University of Science and Technology trong bài “How do the awareness of AI benefits and government subsidies affect green transport adoption”, công bố trên "Transportation Research Part A: Policy and Practice". Nghiên cứu mở rộng mô hình Value–Attitude–Behavior bằng cách đưa vào hai biến còn ít được khai thác: nhận thức về lợi ích AI trong xe máy điện và nhận thức về trợ cấp, hỗ trợ của chính phủ. Kết quả cho thấy cả hiểu biết công nghệ lẫn chính sách công đều có vai trò đáng kể trong ý định chấp nhận phương tiện xanh, đặc biệt khi người dùng có mức quan tâm và gắn kết công nghệ cao.
Cũng từ bối cảnh Đà Nẵng, nhóm tác giả TS. Nguyễn Sơn Tùng, GS. TS. Lê Văn Huy, TS. Lê Thị Minh Hằng, ThS. Nguyễn Ngân Hà, ThS. Tạ Nguyệt Phương và các cộng sự quốc tế từ Bỉ, Anh đã công bố bài “Unlocking Green Mobility: How Government Intervention Sensitivity and Psychology Drive Dockless Bike-Sharing in Da Nang, Vietnam”. Bài báo tích hợp TPB, TAM, NAM với biến Government Intervention Sensitivity và cho thấy mức độ nhạy cảm với can thiệp của chính phủ là yếu tố có ảnh hưởng mạnh nhất đến ý định sử dụng dịch vụ xe đạp chia sẻ không bến. Ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu rất rõ: để thúc đẩy di chuyển xanh, công nghệ thôi chưa đủ; thiết kế chính sách, niềm tin vào điều phối công và trải nghiệm hạ tầng mới là mắt xích quyết định.
3. Du lịch, điểm đến và lựa chọn đạo đức: DUE mở rộng khung lý thuyết từ bối cảnh Việt Nam
Ở lĩnh vực du lịch, các công bố của DUE trong Quý I/2026 cho thấy một hướng đi nhất quán: không chỉ nghiên cứu trải nghiệm ở điểm đến, mà còn nghiên cứu cách các giá trị xã hội, đạo đức và văn hóa định hình lựa chọn của du khách ngay từ trước chuyến đi. PGS. TS. Trần Trung Vinh, ThS. Nguyễn Ký Viễn, ThS. Đoàn Thị Hoài Thanh và cộng sự là những tác giả của nghiên cứu “A serial mediation model for destination brand equity in a destination social responsibility context” đăng trên Social Responsibility Journal. Với dữ liệu 609 du khách tại Đà Nẵng, nhóm tác giả chỉ ra ba con đường mà trách nhiệm xã hội điểm đến có thể chuyển hóa thành lòng trung thành với thương hiệu điểm đến: con đường nhận thức, con đường cảm xúc và con đường lai giữa nhận thức - cảm xúc. Đây là một gợi mở đáng kể cho các nhà quản lý điểm đến khi muốn biến thông điệp phát triển bền vững thành tài sản thương hiệu thực sự.
Cùng mạch quan tâm đó, PGS. TS. Trần Trung Vinh và cộng sự phát triển, kiểm định thang đo “Ethically Minded Tourist Behavior” công bố trên International Journal of Contemporary Hospitality Management. Điểm mới của nghiên cứu là dịch chuyển trọng tâm từ hành vi trong chuyến đi sang giai đoạn lập lịch trình và chọn điểm đến, tức là thời điểm du khách cân nhắc yếu tố đạo đức trước khi ra quyết định. Song song, TS. Trần Triệu Khải cùng đối tác từ SKEMA Business School (Pháp) và Macquarie University (Australia) công bố bài “Sharing experienscape, reflexivity, & re-engagement: A cross-cultural study” trên International Journal of Hospitality Management, qua đó tái khái niệm hóa “sharing experienscape” và làm rõ vai trò của reflexivity trong việc thúc đẩy tái gắn kết dịch vụ chia sẻ giữa các bối cảnh văn hóa khác nhau. Cả hai công trình đều cho thấy DUE không chỉ bổ sung dữ liệu, mà còn tham gia phát triển khái niệm và thang đo cho nghiên cứu du lịch đương đại.
4. Con người, AI, Gen Z và nền tảng số: Những câu hỏi mới của kinh tế trải nghiệm
Một cụm công bố khác phản ánh rõ sự nhạy bén của DUE trước những thay đổi của kinh tế trải nghiệm và nền tảng số. TS. Võ Thị Quỳnh Nga, ThS Nguyễn Thị Hải Đường với sự phối hợp của cộng sự từ UEH, công bố bài “How experiential learning and AI readiness foster career adaptation in hospitality and tourism education” trên Journal of Tourism Futures. Nghiên cứu cho thấy học tập trải nghiệm và mức sẵn sàng với AI không chỉ tăng cảm nhận về khả năng được tuyển dụng, mà còn góp phần hình thành sự phù hợp nghề nghiệp, đam mê nghề và ý định lựa chọn việc làm trong lĩnh vực du lịch - khách sạn. Đây là một vấn đề có ý nghĩa trực tiếp đối với đổi mới chương trình đào tạo trong bối cảnh AI đang thay đổi mạnh cấu trúc việc làm.
Ở nhóm nghiên cứu về Gen Z và hành vi trên nền tảng số, TS. Ngô Thị Khuê Thư và nhóm nghiên cứu sử dụng khung Stimulus-Organism-Response để lý giải hành vi mua bốc đồng của người dùng TikTok tại Việt Nam trong bài báo trên Journal of Indonesian Economy and Business. Kết quả nhấn mạnh vai trò của đồng cảm, tính hữu ích cảm nhận, tính thú vị cảm nhận và thôi thúc mua trong quá trình ra quyết định trên nền tảng ngắn hạn, giàu cảm xúc. Trong khi đó, PGS. TS. Trần Trung Vinh, ThS. Nguyễn Ký Viễn, ThS. Thái Thị Huyền Trâm và cộng sự làm rõ hai con đường động lực - nội tại và ngoại tại - từ tình yêu thương hiệu người nổi tiếng đến đồng sáng tạo trải nghiệm sự kiện và sẵn sàng trả giá cao hơn của Gen Z. Bài báo này cho thấy DUE đang theo rất sát những chuyển động mới của văn hóa sự kiện, thương mại trải nghiệm và tiếp thị qua người nổi tiếng.
Đáng chú ý, Quý I/2026 cũng ghi nhận sự hiện diện của DUE trong một hướng nghiên cứu giao thoa công nghệ - y sinh. Bài báo “Enhancing Cerebrovascular Segmentation With Explainable Deep Semi-Supervised Learning: A Mean Teacher and Virtual Adversarial Training Approach”, có sự tham gia của ThS. Châu Thị Dạ Hương, cho thấy năng lực kết nối học thuật của DUE với những chủ đề AI ứng dụng ngoài phạm vi kinh tế và du lịch. Sự xuất hiện của công trình này không chỉ mở rộng phổ chủ đề nghiên cứu, mà còn cho thấy tinh thần hợp tác liên ngành ngày càng rõ hơn trong môi trường học thuật của trường.
5. Tích lũy năng lực bằng chiều sâu và hợp tác
Nhìn tổng thể, các công bố quốc tế của DUE trong Quý I/2026 phát đi một thông điệp khá rõ. Thứ nhất, nhiều nghiên cứu của Trường đang bám rất sát các vấn đề đương đại: minh bạch thị trường vốn, rủi ro an ninh mạng, chuyển đổi giao thông xanh, thương hiệu điểm đến, lựa chọn du lịch có đạo đức, thích ứng nghề nghiệp với AI, tiêu dùng số và hành vi Gen Z.
Thứ hai, chất lượng nghiên cứu thể hiện ở chỗ các nhóm tác giả không chỉ kiểm định mô hình cũ, mà còn phát triển thang đo mới, tái khái niệm hóa khung phân tích hoặc kiểm định trên các bộ dữ liệu quy mô lớn.
Thứ ba, mạng lưới hợp tác của DUE đang mở rộng cả theo chiều trong nước lẫn quốc tế, với các đối tác như: FTU, VinUniversity, UEH, Edith Cowan University, Macquarie University, SKEMA Business School, University of Liège, Hasselt University, Queen’s University Belfast, University of Cambridge, KFUPM, Huazhong University of Science and Technology, National Central University hay Ningbo University of Finance & Economics. Chính những kết nối này giúp dữ liệu địa phương của Đà Nẵng, Việt Nam đi vào đối thoại học thuật quốc tế một cách thuyết phục hơn, đồng thời góp phần định vị DUE như một môi trường nghiên cứu đang tích lũy năng lực bằng chiều sâu, bằng chất lượng và bằng tinh thần hợp tác mở.
Một số công bố quốc tế của DUE Quý I/2026
1. Nguyen Tram Anh Tran, Van Ha Nguyen, & Bao Ngoc Dinh. (2026). Analyst Coverage and Commonality in Liquidity: International Evidence. International Finance, 1–19. [SSCI, Q2; Đã công bố trực tuyến, có DOI] https://doi.org/10.1111/infi.70018
Tác giả/nhóm tác giả DUE liên quan: TS. Trần Nguyễn Trâm Anh; PGS.TS. Đinh Bảo Ngọc.
2. Huy Van Le, Nhi Thao Ho-Mai, Vinh Trung Tran, Hue Kim Thi Nguyen, Vien Ky Nguyen, Thanh Hoai Thi Doan, & Phuong Kim Thi Tran. (2026). A serial mediation model for destination brand equity in a destination social responsibility context. Social Responsibility Journal. Advance online publication. [Scopus/ESCI, Q1; AOA/In press, có DOI] https://doi.org/10.1108/SRJ-04-2025-0356
Tác giả/nhóm tác giả DUE liên quan: GS.TS. Lê Văn Huy, PGS.TS. Trần Trung Vinh; ThS. Nguyễn Ký Viễn; ThS. Đoàn Thị Hoài Thanh
3. Son-Tung Nguyen, Le Van Huy, Le Thi Minh Hang, Ngan-Ha Nguyen, Nguyet-Phuong Ta, Mehdi Moeinaddini, Ismaıl Saadi, & Mario Cools. (2026). Unlocking Green Mobility: How Government Intervention Sensitivity and Psychology Drive Dockless Bike-Sharing in Da Nang, Vietnam. Transportation Research Record, 1–15. [SCIE, Q2] https://doi.org/10.1177/03611981251398749
Tác giả/nhóm tác giả DUE liên quan: TS. Nguyễn Sơn Tùng; GS.TS. Lê Văn Huy; TS. Lê Thị Minh Hằng; ThS. Nguyễn Ngân Hà; ThS. Tạ Nguyệt Phương.
4. Ngo Thi Khue Thu, Hoang Thi Quynh Anh, Bui Le Quynh Anh, Nguyen Thi Thuy Duong, Nguyen Thi Phuong, Tran Le Uyen Nhi, & Nguyen Thu Hang. (2026). TikTok Users' Impulsive Buying Behavior: The Role of Empathy, Perceived Usefulness and Perceived Enjoyment. Journal of Indonesian Economy and Business, 41(1), 107–138. [Scopus, Q3] https://doi.org/10.22146/jieb.v41i1.16782
Tác giả/nhóm tác giả DUE liên quan: TS. Ngô Thị Khuê Thư và nhóm nghiên cứu.
5. Nhi Thao Ho-Mai, Phuong Kim Thi Tran, Vinh Trung Tran, Hue Kim Thi Nguyen, & Phong Dong Nguyen. (2026). Sustainable tourism begins in the itinerary: scale development and validation of the ethically minded tourist behavior. International Journal of Contemporary Hospitality Management. Advance online publication. [SSCI, Q1; AOA/In press, có DOI] https://doi.org/10.1108/IJCHM-04-2025-0536
Tác giả/nhóm tác giả DUE liên quan: PGS.TS. Trần Trung Vinh.
6. Duy Quy Nguyen-Phuoc, Thi Minh Truong, Thao Nhi Ho-Mai, Tuan Trong Luu, & Zhi-Chun Li. (2026). How do the awareness of AI benefits and government subsidies affect green transport adoption: the moderating role of technology interest and engagement. Transportation Research Part A: Policy and Practice, 204, 104846. [SSCI, Q1] https://doi.org/10.1016/j.tra.2025.104846
Tác giả/nhóm tác giả DUE liên quan: ThS. Trương Minh Thi.
7. Thi Thanh Huong Tran, Shijiao (Joseph) Chen, & Khai Trieu Tran. (2026). Sharing experienscape, reflexivity, & re-engagement: A cross-cultural study. International Journal of Hospitality Management, 135, 104617. [SSCI, Q1] https://doi.org/10.1016/j.ijhm.2026.104617
Tác giả/nhóm tác giả DUE liên quan: TS. Trần Triệu Khải.
8. Thi-Da-Huong Chau, Ai-Hsien Adam Li, Yen-Jun Lai, & Chien-Lung Chan. (2026). Enhancing Cerebrovascular Segmentation With Explainable Deep Semi-Supervised Learning: A Mean Teacher and Virtual Adversarial Training Approach. International Journal of Imaging Systems and Technology, 36(2), e70320. [SCIE, Q2] https://doi.org/10.1002/ima.70320
Tác giả/nhóm tác giả DUE liên quan: ThS. Châu Thị Dạ Hương.
9. Nga Quynh Thi Vo, Phuong Kim Thi Tran, & Duong Hai Thi Nguyen. (2026). How experiential learning and AI readiness foster career adaptation in hospitality and tourism education. Journal of Tourism Futures. Advance online publication. [ESCI/Scopus, Q1] https://doi.org/10.1108/JTF-10-2025-0312
Tác giả/nhóm tác giả DUE liên quan: TS. Võ Thị Quỳnh Nga; Ths Trần Thị Hải Đường
10. Zheng Yang, Henry Hongren Huang, & Trung K. Do. (2026). Turning threats into opportunities: The impact of cybersecurity risk on labor investment efficiency. Journal of Corporate Finance, 99, 103000. [SSCI, Q1] https://doi.org/10.1016/j.jcorpfin.2026.103000
Tác giả/nhóm tác giả DUE liên quan: TS. Đỗ Khắc Trung.
11. Nhi Thao Ho-Mai, Phong Dong Nguyen, Vinh Trung Tran, Vien Ky Nguyen, Tram Huyen Thi Thai, Hue Kim Thi Nguyen, & Phuong Kim Thi Tran. (2026). Motivation pathways from celebrity brand love to event co-creation and pay-a-premium intentions for generation Z consumers. International Journal of Event and Festival Management. Advance online publication. [Scopus/ESCI, Q2] https://doi.org/10.1108/IJEFM-04-2025-0049
Tác giả/nhóm tác giả DUE liên quan: PGS.TS. Trần Trung Vinh; ThS. Nguyễn Ký Viễn; ThS. Thái Thị Huyền Trâm.
Phòng Khoa học và Hợp tác quốc tế