DHKT

Tạp chí Cộng sản: Đại học khởi nghiệp - nền tảng hệ sinh thái khởi nghiệp bền vững

29/01/2026

Phạm Ngọc Sinh (Phó Chủ tịch Hội đồng Tư vấn khởi nghiệp quốc gia (VINEN), Chủ tịch Hội đồng Tư vấn Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo Trường Đại học Kinh tế - Đại học Đà Nẵng) 

Để Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045, các doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo (start-up) giữ vai trò then chốt trong quá trình nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, xây dựng nền kinh tế tri thức. Hệ thống trường cao đẳng, đại học đóng vai trò như một trụ cột trong hệ thống đổi mới sáng tạo, với sứ mệnh cung cấp nguồn nhân lực, nuôi dưỡng khát vọng, thúc đẩy tiến bộ khoa học - kỹ thuật, chuyển giao kiến thức, công nghệ mới, kỹ năng khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo.


Buổi chia sẻ về vấn đề khởi nghiệp tại Trường Đại học FPT. Ảnh: TTXVN

Đại học khởi nghiệp trong hệ sinh thái khởi nghiệp

Đại học khởi nghiệp là cách tiếp cận mới của hệ sinh thái khởi nghiệp quốc tế, với những thành tựu đáng kể, quyết định sự phát triển. Có nhiều mô hình khác nhau, song về cơ bản thống nhất: đại học khởi nghiệp có sứ mệnh, cấu trúc tổ chức, cơ chế vận hành, văn hóa và hợp tác được thiết kế để tạo ra và nuôi dưỡng doanh nhân, công nghệ và mô hình kinh doanh mới; có sứ mệnh nghiên cứu, tư vấn, kiến tạo, kết nối mạng lưới; giáo dục tinh thần kinh doanh, doanh nhân cho giảng viên và sinh viên, hỗ trợ và phát triển tài năng khởi nghiệp sinh viên.

Học viện Công nghệ Massachusetts, Mỹ (MIT) là hình mẫu tiêu biểu của đại học khởi nghiệp dựa trên nghiên cứu và thương mại hóa, là trọng tâm trong chuyển hóa tri thức khoa học và công nghệ thành giá trị kinh tế. Chương trình đào tạo, giáo dục khởi nghiệp dựa trên nền tảng công nghệ mới được xây dựng và triển khai rất sớm, tập trung vào đào tạo tinh thần khởi nghiệp và kỹ năng khởi nghiệp.

Không tiếp cận khởi nghiệp như một môn học độc lập đơn lẻ, mà tích hợp sâu vào các chương trình đào tạo kỹ thuật, khoa học và quản lý. Sinh viên được khuyến khích tham gia các dự án liên ngành, các cuộc thi khởi nghiệp công nghệ (như MIT $100K Entrepreneurship Competition), nơi ý tưởng kinh doanh thường xuất phát từ phòng thí nghiệm hoặc các đề tài nghiên cứu.

Nhiều giáo viên MIT trở thành doanh nhân để bổ sung thu nhập; gắn kết chặt chẽ giữa MIT và doanh nghiệp thông qua chuỗi ý tưởng, phát minh sản sinh từ nhà trường và dòng lợi nhuận mang về. Chương trình nổi bật là Martin Trust Center for MIT Entrepreneurshi, hỗ trợ sinh viên khởi nghiệp từ ý tưởng ban đầu đến phát triển sản phẩm và tiếp cận thị trường.

Các mô hình sáng tạo từ MIT đã góp phần ra đời thành công hàng nghìn công ty công nghệ. MIT gắn chặt với hệ sinh thái khởi nghiệp vùng Boston - Cambridge, nơi tập trung các tập đoàn công nghệ, quỹ đầu tư mạo hiểm và start-up công nghệ cao. Với mô hình này, MIT không chỉ đào tạo hay tạo doanh nghiệp, mà còn đóng vai trò là nguồn cung tri thức cốt lõi hệ sinh thái công nghệ.

Theo hướng khác, Đại học Stanford, Mỹ tiêu biểu cho mô hình đại học khởi nghiệp gắn chặt với hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, đóng vai trò trung tâm hình thành và phát triển Thung lũng Silicon. Đại học Stanford chú trọng phương pháp học thông qua trải nghiệm và dự án thực tế. Các chương trình khởi nghiệp được đồng thiết kế với doanh nghiệp, nhà đầu tư và cựu sinh viên khởi nghiệp thành công.

Sinh viên không chỉ học lập kế hoạch kinh doanh mà còn được tiếp cận trực tiếp thị trường, người dùng và nhà đầu tư ngay từ khi học tập. Theo đó, Stanford khuyến khích mạnh mẽ đưa kết quả nghiên cứu ra thị trường thông qua các công ty spin-off (mô hình doanh nghiệp khởi nguồn công nghệ) và start-up công nghệ.

Cơ chế sở hữu trí tuệ linh hoạt giúp giảng viên và sinh viên dễ dàng thương mại hóa công nghệ. Stanford là “trái tim” của Silicon Valley, với mạng lưới kết nối chặt chẽ giữa trường đại học - doanh nghiệp công nghệ - quỹ đầu tư mạo hiểm - chính quyền địa phương, đóng vai trò tác nhân dẫn dắt và duy trì hệ sinh thái khởi nghiệp quy mô toàn cầu.

Ở góc độ tiếp cận chính sách và mô hình khởi nghiệp mở, Trường Đại học Quốc gia Singapore (NUS) tiêu biểu cho đại học khởi nghiệp gắn với định hướng và chính sách phát triển quốc gia, trong đó khởi nghiệp là công cụ thúc đẩy năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.

NUS triển khai chương trình đào tạo khởi nghiệp toàn diện cho sinh viên nhiều ngành trong nước và quốc tế, cả chương trình trao đổi và thực tập khởi nghiệp tại các trung tâm đổi mới sáng tạo lớn trên thế giới; hỗ trợ mạnh mẽ chuyển giao công nghệ, bao gồm: vườn ươm, quỹ hỗ trợ khởi nghiệp và các chương trình tăng tốc.

Thương mại hóa kết quả nghiên cứu thông qua doanh nghiệp spin-off, đặc biệt các lĩnh vực công nghệ cao và y sinh. NUS hoạt động trong mối liên kết chặt chẽ với Chính phủ Singapore, các doanh nghiệp và tổ chức quốc tế, giữ vai trò đầu mối triển khai chiến lược đổi mới sáng tạo quốc gia, kết nối để hỗ trợ khởi nghiệp.

Chính sách và giải pháp phát triển đại học khởi nghiệp Việt Nam

Sau khi khởi động chương trình Quốc gia khởi nghiệp (năm 2016), Chính phủ ban hành Đề án “Hỗ trợ học sinh, sinh viên khởi nghiệp” (Đề án 1665), với mục tiêu: thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp của học sinh, sinh viên; trang bị kiến thức, kỹ năng khởi nghiệp cho học sinh, sinh viên; tạo môi trường thuận lợi để hỗ trợ học sinh, sinh viên hình thành và hiện thực hóa các ý tưởng, dự án khởi nghiệp, góp phần tạo việc làm cho học sinh, sinh viên sau khi tốt nghiệp.

Đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện hệ sinh thái khởi nghiệp trong đại học, cơ sở giáo dục nghề nghiệp, thúc đẩy thành lập doanh nghiệp khởi nghiệp từ kết quả nghiên cứu. Song, 10 năm qua, vai trò của trường đại học chưa phát huy mạnh mẽ trong khởi nghiệp sáng tạo.

Đề án 1665 kết thúc năm 2025. Cùng thời gian này, Đảng ta có những quyết sách lớn, đột phá chưa có tiền lệ, khẳng định và đề cao đại học trong kỷ nguyên mới. Ngày 22-12-2024, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 57-NQ/TW, về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là các yếu tố cốt lõi, quyết định sự phát triển bền vững và cạnh tranh của quốc gia trên trường quốc tế; khuyến khích thành lập doanh nghiệp, hợp tác chặt chẽ với doanh nghiệp để thương mại hóa kết quả nghiên cứu, thu hút nhân tài, tạo cơ hội lớn để các trường đại học Việt Nam vươn lên, góp phần vào phát triển đất nước.

Tiếp đó, Nghị quyết số 71-NQ/TW, ngày 22-8-2025, của Bộ Chính trị, về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, xác định: mạng lưới trường đại học cần đóng vai trò nòng cốt trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo vùng và địa phương, đẩy mạnh liên kết với doanh nghiệp.

Trong bối cảnh đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo xác định đến năm 2030, Việt Nam có 100% số trường đại học, cơ sở giáo dục nghề nghiệp đưa khởi nghiệp sáng tạo vào mục tiêu sứ mệnh, tầm nhìn của đơn vị; 100% số trường đại học, giáo dục nghề nghiệp, giáo dục phổ thông có chương trình truyền thụ khởi nghiệp cho học sinh, sinh viên.

Tối thiểu có 1 tư vấn viên khởi nghiệp/500 sinh viên. Hằng năm, hỗ trợ triển khai 50 dự án khởi nghiệp từ ý tưởng khởi nghiệp của giảng viên, sinh viên. Mỗi đại học, cơ sở giáo dục nghề nghiệp ươm tạo tối thiểu 5 doanh nghiệp khởi nghiệp...

Trước yêu cầu mới, để phát triển đại học khởi nghiệp ở Việt Nam, cần thực hiện các giải pháp đột phá sau:

Một là, nâng cao chất lượng nghiên cứu, phát triển giảng viên, nhà khoa học có trình độ cao hướng đến thành lập các trung tâm đổi mới sáng tạo, đặc biệt quan tâm xây dựng phòng trung tâm thí nghiệm đi đôi với vấn đề sở hữu trí tuệ quốc gia, quốc tế. Đây là nơi sản sinh, là “đầu vào” của doanh nghiệp khởi nghiệp, doanh nghiệp khoa học và công nghệ - loại hình doanh nghiệp quyết định thay đổi chất lượng nền kinh tế, cũng là nơi hình thành lực lượng nhà khoa học - doanh nhân.

Nhà nước có chiến lược đầu tư các phòng/trung tâm thí nghiệm trọng điểm và khuyến khích, hỗ trợ trường đại học liên kết mạnh mẽ với doanh nghiệp phát triển. Mở cửa cho đại học sử dụng cơ sở vật chất, hợp tác doanh nghiệp lớn lập phòng/trung tâm thí nghiệm là con đường khai thác, sử dụng tối đa kết quả nghiên cứu thương mại hóa.

Đây là liên kết sinh động, có sức hút mạnh mẽ nhà khoa học và doanh nhân. Sản phẩm nghiên cứu, sản phẩm khởi nghiệp phải được đăng ký sở hữu trí tuệ, nhất là quốc tế; không thể đứng ngoài, khép kín.

Hai là, ban hành đề án đào tạo đội ngũ giảng viên khởi nghiệp chuyên sâu cùng với bộ giáo trình tiếp cận kiến thức, mô hình khởi nghiệp trong kỷ nguyên BANI (Brittle - dễ gãy, Anxious - lo âu, Non-linear - phi tuyến tính, Incomprehensible - khó lý giải) luôn biến động và thay đổi, cần thích ứng, đổi mới liên tục với tư duy linh hoạt để phát triển.

Nghị quyết số 68-NQ/TW, ngày 4-5-2025, của Bộ Chính trị, về phát triển kinh tế tư nhân, đặt ra mục tiêu đến năm 2030 Việt Nam có 2 triệu doanh nghiệp, trong khi hiện nay mới có hơn 900.000 doanh nghiệp. Điều này đòi hỏi mỗi địa phương phải tăng ít nhất gấp đôi (có địa phương tăng gấp nhiều lần) số lượng doanh nghiệp trong 4 - 5 năm tới.

Bên cạnh đó, Nghị quyết số 57-NQ/TW nhấn mạnh đổi mới sáng tạo, công nghệ, sản phẩm có hàm lượng chất xám cao, nhằm nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường khu vực và quốc tế. Để đạt được 2 mục tiêu lớn này, đội ngũ chuyên gia, cố vấn, giảng viên khởi nghiệp trở nên đặc biệt quan trọng, quyết định vấn đề khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo trong sinh viên.

Ba là, nuôi dưỡng, phát triển khát vọng khởi nghiệp trong sinh viên. Học sinh, sinh viên phải được trang bị tinh thần dám thay đổi, vượt ra khỏi “vùng an toàn”. Đó là sứ mệnh của doanh nhân, doanh nhân trẻ...

Không ai khác, chính họ bằng kinh nghiệm thương trường, kiến thức, kỹ năng kinh doanh sẽ trở thành người truyền lửa, thầy dạy, nhà đồng hành tổ chức các cuộc thi tìm kiếm, vinh danh tài năng khởi nghiệp và cũng là nhà đầu tư thiên thần cho ý tưởng, dự án khởi nghiệp sáng tạo của sinh viên.

Các trường đại học cần liên kết với hiệp hội doanh nghiệp, hội doanh nhân trẻ, hội nữ doanh nhân,... thực hiện sứ mệnh ấy. Đây là hành động cụ thể cho mối liên kết Nhà nước - nhà trường - doanh nghiệp.

Theo đó, đại học sớm hình thành câu lạc bộ doanh nhân - mạng lưới nhà đầu tư là cựu sinh viên và kết nối họ với hoạt động khởi nghiệp của trường. Giải pháp này kỳ vọng đạt và vượt mục tiêu đề ra đến năm 2030, như dự kiến của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Bốn là, đại học khởi nghiệp với giá trị cốt lõi lãnh đạo và quản trị định hướng khởi nghiệp phải trở thành trung tâm nghiên cứu, tham mưu cho Đảng, Nhà nước về chính sách khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo.

Với tư cách là thành tố cấu thành và quyết định đầu vào của khởi nghiệp sáng tạo và kiến thức nghiên cứu sâu, đại học khởi nghiệp, nhất là các trường liên quan đến khoa học xã hội, quản lý kinh tế, cần tham gia mạnh vào tham mưu chính sách cụ thể. Kinh nghiệm của NUS là bài học và con đường cho đại học khởi nghiệp tại Việt Nam trong mối quan hệ với chính quyền và doanh nghiệp.

Năm là, vận hành và mở rộng mô hình Khởi nghiệp sáng tạo mở (Open Innovation) với nòng cốt mạng lưới đối tác mạnh. Theo các nhà nghiên cứu, thế giới bước vào kỷ nguyên BANI, lợi thế cạnh tranh không còn đến từ tốc độ phản ứng đơn lẻ, mà từ năng lực tổ chức, học hỏi và đổi mới liên tục. Khởi nghiệp sáng tạo mở không đơn thuần là sự lựa chọn chiến thuật, mà là năng lực nền tảng quyết định khả năng tồn tại và tăng trưởng dài hạn.

Khác với yêu cầu tính bảo mật cao và tâm lý tách biệt trong nghiên cứu và phát triển (R&D) truyền thống, đổi mới sáng tạo mở khuyến khích hợp tác, chia sẻ kiến thức, mời gọi cộng đồng tham gia vào quá trình giải quyết vấn đề và phát triển sản phẩm.

Đây là cơ hội để doanh nghiệp thu hút chuyên gia xuất sắc và mở rộng nguồn lực sáng tạo của mình như dự báo năm 2026 sẽ là bước ngoặt mới của Open Innovation và đổi mới sáng tạo trong lòng doanh nghiệp.

Xem bài viết Đại học khởi nghiệp - nền tảng hệ sinh thái khởi nghiệp bền vững trên Tạp chí Cộng sản

Nguồn: Tạp chí Cộng sản