DHKT

  • Chương trình đào tạo Tiến sĩ Ngành Quản lý kinh tế

    XEM:  CTĐT TIẾN SĨ NGÀNH QUẢN LÝ KINH TẾ 

    1. Mục tiêu

    Chương trình đào tạo trình độ tiến sĩ ngành Quản lý kinh tế được thiết kế nhằm đào tạo đội ngũ nhà khoa học, giảng viên, chuyên gia tư vấn, nhà quản lý và nhà hoạch định chính sách có trình độ chuyên môn cao; có năng lực nghiên cứu độc lập, sáng tạo tri thức mới và giải quyết các vấn đề phức tạp trong lĩnh vực quản lý kinh tế. Chương trình trang bị cho nghiên cứu sinh hệ thống kiến thức chuyên sâu, hiện đại và có tính liên ngành về kinh tế, quản lý kinh tế, quản lý nhà nước về kinh tế, thể chế, chính sách công, phát triển bền vững, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và hội nhập kinh tế quốc tế. Trên nền tảng đó, nghiên cứu sinh có khả năng nhận diện, phân tích, luận giải và phản biện các vấn đề mới trong quản lý kinh tế; làm chủ các phương pháp nghiên cứu khoa học tiên tiến; thiết kế và thực hiện các nghiên cứu độc lập có giá trị khoa học và ý nghĩa thực tiễn.

    Chương trình hướng đến phát triển năng lực của nghiên cứu sinh trong việc tổ chức, triển khai và dẫn dắt các đề tài, dự án nghiên cứu; công bố kết quả nghiên cứu trên các diễn đàn khoa học có uy tín; ứng dụng, chuyển giao tri thức, mô hình và giải pháp quản lý vào thực tiễn. Nghiên cứu sinh sau khi tốt nghiệp có khả năng tham gia phân tích, tư vấn, phản biện, hoạch định, thực thi và đánh giá chính sách kinh tế ở cấp quốc gia, vùng, địa phương, ngành hoặc tổ chức; đồng thời có năng lực đóng góp vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội trong bối cảnh toàn cầu hóa, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và đổi mới sáng tạo. Chương trình cũng chú trọng hình thành ở nghiên cứu sinh phẩm chất chính trực, đạo đức nghề nghiệp, liêm chính học thuật, trách nhiệm xã hội và năng lực tự chủ cao trong hoạt động chuyên môn. Người học được kỳ vọng trở thành những chuyên gia có khả năng tự định hướng, dẫn dắt nghiên cứu, đưa ra các kết luận mang tính chuyên gia và chịu trách nhiệm đối với các khuyến nghị khoa học, quản lý và chính sách của mình.

    Chương trình được thiết kế để giúp người học đạt được các kiến thức, kỹ năng và mức tự chủ và trách nhiệm cụ thể như sau:

    PO1. Về kiến thức

    Nghiên cứu sinh làm chủ hệ thống kiến thức chuyên sâu, tiên tiến và có tính cập nhật trong lĩnh vực Quản lý kinh tế, bao gồm quản lý nhà nước về kinh tế, thể chế kinh tế, chính sách công, quản lý phát triển, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và hội nhập kinh tế quốc tế. Nghiên cứu sinh có khả năng phân tích, luận giải và phản biện các lý thuyết, mô hình và quy luật vận hành của nền kinh tế trong những bối cảnh phức tạp, biến động và đa chiều. Đồng thời, nghiên cứu sinh nắm vững các phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu khoa học hiện đại, bao gồm phương pháp nghiên cứu định lượng, định tính và hỗn hợp; có khả năng lựa chọn, phát triển và vận dụng phù hợp các công cụ nghiên cứu để phát hiện, phân tích và giải quyết các vấn đề mới trong lĩnh vực quản lý kinh tế. Nghiên cứu sinh cũng có hiểu biết sâu sắc về quy trình hoạch định, thực thi, giám sát, phản biện và đánh giá tác động của chính sách kinh tế - xã hội trong bối cảnh toàn cầu hóa, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và phát triển bền vững.

    PO2. Về kỹ năng

    Nghiên cứu sinh có khả năng thiết kế, tổ chức, triển khai và điều phối các nghiên cứu khoa học độc lập; xây dựng câu hỏi nghiên cứu, khung lý thuyết, mô hình nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu phù hợp với các vấn đề phức tạp trong lĩnh vực quản lý kinh tế. Nghiên cứu sinh có kỹ năng phân tích dữ liệu, tổng hợp bằng chứng khoa học, phát triển lập luận học thuật, công bố kết quả nghiên cứu và chuyển giao tri thức vào thực tiễn quản lý, hoạch định và đánh giá chính sách. Nghiên cứu sinh có năng lực phân tích chuyên sâu, tư vấn chiến lược và phản biện độc lập đối với các chính sách, chương trình, dự án và mô hình quản lý kinh tế ở cấp quốc gia, vùng, địa phương, ngành hoặc tổ chức. Đồng thời, nghiên cứu sinh phát triển kỹ năng lãnh đạo học thuật, quản lý nhóm nghiên cứu, giao tiếp khoa học, trình bày và bảo vệ quan điểm chuyên môn trong môi trường học thuật, quản lý và chính sách có tính liên ngành, đa văn hóa và hội nhập quốc tế.

    PO3. Về mức tự chủ và trách nhiệm

    Nghiên cứu sinh có năng lực tự định hướng, tự chủ và chịu trách nhiệm cao trong học tập, nghiên cứu, công bố khoa học và hoạt động chuyên môn. Nghiên cứu sinh tuân thủ các chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp, liêm chính học thuật, trung thực trong nghiên cứu, minh bạch trong sử dụng dữ liệu và có trách nhiệm đối với các kết luận, khuyến nghị khoa học và chính sách do mình đề xuất. Nghiên cứu sinh thể hiện trách nhiệm xã hội trong việc phát hiện, phân tích và đề xuất các giải pháp quản lý kinh tế gắn với phát triển bền vững, công bằng, bao trùm và lợi ích của cộng đồng. Sau khi hoàn thành chương trình, nghiên cứu sinh có khả năng khẳng định vai trò chuyên gia trong lĩnh vực Quản lý kinh tế; có năng lực dẫn dắt nghiên cứu, tham gia tư vấn, phản biện, hoạch định và đánh giá chính sách; đồng thời chịu trách nhiệm về các quyết định và phán quyết chuyên môn trong những bối cảnh phức tạp và thay đổi.

    2. Chuẩn đầu ra 

    Nghiên cứu sinh (NCS) sau khi hoàn thành chương trình đào tạo ngành Quản lý kinh tế có khả năng:

    PLO1: Làm chủ và vận dụng hệ thống kiến thức chuyên sâu, tiên tiến và cập nhật về kinh tế, quản lý kinh tế, quản lý nhà nước về kinh tế, thể chế, chính sách công và phát triển bền vững để phân tích, đánh giá và phản biện các vấn đề quản lý kinh tế trong bối cảnh toàn cầu hóa, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và hội nhập quốc tế.

    PLO2: Phân tích, đánh giá và phản biện các lý thuyết, mô hình, chính sách và công cụ quản lý kinh tế; lựa chọn và vận dụng phù hợp các phương pháp luận, phương pháp nghiên cứu định lượng, định tính và hỗn hợp để thiết kế, xây dựng khung nghiên cứu và thực hiện các nghiên cứu độc lập trong lĩnh vực quản lý kinh tế.

    PLO3: Phát triển tri thức mới, mô hình nghiên cứu, khung phân tích, khung chính sách hoặc giải pháp quản lý kinh tế có tính sáng tạo, có giá trị khoa học và ý nghĩa thực tiễn, góp phần bổ sung vào nền tảng tri thức của lĩnh vực Quản lý kinh tế và phục vụ quá trình phát triển kinh tế - xã hội.

    PLO4: Thiết kế, tổ chức và triển khai các đề tài, dự án nghiên cứu khoa học độc lập; tổng hợp bằng chứng khoa học, xây dựng lập luận học thuật, trình bày và tranh biện các kết quả nghiên cứu; công bố kết quả nghiên cứu trên các tạp chí, hội thảo khoa học có uy tín và chuyển giao tri thức vào thực tiễn quản lý kinh tế.

    PLO5: Khai thác, xử lý và phân tích dữ liệu kinh tế - xã hội; vận dụng các công cụ số, trí tuệ nhân tạo và các phương pháp phân tích hiện đại để hỗ trợ nghiên cứu, tư vấn, phản biện và hoạch định chính sách; đồng thời có khả năng dẫn dắt các hoạt động đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong giải quyết các vấn đề quản lý kinh tế phức tạp.

    PLO6: Thể hiện đạo đức nghề nghiệp, liêm chính khoa học, trách nhiệm xã hội và năng lực tự chủ cao trong học tập, nghiên cứu và hoạt động chuyên môn; có khả năng tự định hướng, dẫn dắt nhóm nghiên cứu, đưa ra các kết luận mang tính chuyên gia và chịu trách nhiệm về các khuyến nghị, giải pháp, chính sách quản lý kinh tế gắn với phát triển bền vững và lợi ích cộng đồng.

    3. Cơ hội nghề nghiệp

    Nghiên cứu sinh sau khi tốt nghiệp chương trình đào tạo tiến sĩ ngành Quản lý kinh tế có đủ năng lực chuyên môn, năng lực nghiên cứu độc lập, năng lực phân tích và phản biện chính sách để đảm nhận các vị trí công tác có yêu cầu trình độ cao trong lĩnh vực kinh tế, quản lý, hoạch định chính sách, nghiên cứu khoa học và đào tạo. Cụ thể, người tốt nghiệp có thể làm việc ở các vị trí sau:

    - Chuyên gia nghiên cứu, nghiên cứu viên cao cấp hoặc cán bộ quản lý khoa học tại các viện nghiên cứu, trung tâm nghiên cứu, tổ chức khoa học và công nghệ, cơ quan tư vấn chính sách, tổ chức nghiên cứu phát triển thuộc khu vực công, khu vực tư nhân hoặc các tổ chức quốc tế.

    - Nhà hoạch định, phân tích, tư vấn và phản biện chính sách kinh tế tại các cơ quan quản lý nhà nước từ Trung ương đến địa phương; các bộ, ngành, địa phương; các cơ quan tham mưu chiến lược, cơ quan phát triển vùng, khu kinh tế, khu công nghiệp, tổ chức xúc tiến đầu tư, thương mại và phát triển doanh nghiệp.

    - Chuyên gia quản lý, tư vấn chiến lược và phát triển tổ chức tại các tập đoàn kinh tế, tổng công ty, doanh nghiệp trong và ngoài nước, hiệp hội ngành nghề, tổ chức tài chính, tổ chức phát triển và các đơn vị tư vấn quản lý. Người tốt nghiệp có khả năng tham gia phân tích môi trường kinh tế, xây dựng chiến lược phát triển, đánh giá tác động chính sách, tư vấn đổi mới mô hình quản lý và nâng cao năng lực cạnh tranh của tổ chức.

    - Chuyên gia tư vấn quốc tế, chuyên gia dự án phát triển tại các tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ, tổ chức phát triển, chương trình hợp tác song phương và đa phương trong các lĩnh vực như phát triển bền vững, quản trị công, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, phát triển vùng, giảm nghèo, tăng trưởng bao trùm và hội nhập kinh tế quốc tế.

    - Giảng viên, nhà khoa học, chuyên gia học thuật hoặc cán bộ quản lý đào tạo tại các cơ sở giáo dục đại học, học viện, trường đại học, viện nghiên cứu có đào tạo và nghiên cứu trong lĩnh vực kinh tế, quản lý, quản lý công, chính sách công, phát triển bền vững và các lĩnh vực liên quan.

    - Lãnh đạo, quản lý cấp cao hoặc chuyên gia tư vấn độc lập trong các tổ chức công, tổ chức tư nhân, tổ chức xã hội nghề nghiệp và các mạng lưới nghiên cứu - tư vấn chính sách, có khả năng đưa ra các phân tích, khuyến nghị và quyết định mang tính chuyên gia trong những bối cảnh quản lý kinh tế phức tạp.